Loading...
Banner website
KẾT QUẢ XÂY DỰNG, QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN NHÃN HIỆU CÁC SẢN PHẨM NÔNG SẢN CHỦ LỰC CỦA TỈNH SƠN LA GIAI ĐOẠN 2015-2018 ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020
Cập nhật: 22/03/2019
Lượt xem: 337
Với mục tiêu phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng, tăng giá trị sản phẩm, sản xuất nông sản sạch, an toàn, là tiềm năng lớn đáp ứng yêu cầu xuất khẩu. Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh tập trung cao lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh tiêu thụ, xuất khẩu các sản phẩm nông sản là tiềm năng lợi thế của tỉnh; trong đó có nội dung tập trung và đẩy nhanh tiến độ xây dựng, phát triển thương hiệu các sản phẩm chủ lực của tỉnh.
Trên cơ sở định hướng của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, Sở Khoa học và Công nghệ Sơn La đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành các văn bản triển khai thực hiện công tác xây dựng, phát triển thương hiệu cho các sản phẩm nông sản chủ lực của tỉnh: Quyết định số 01/QĐ-UBND ngày 04/01/2016 của UBND tỉnh Sơn La về việc ban hành kế hoạch xây dựng và phát triển thương hiệu các sản phẩm chủ lực của tỉnh Sơn La giai đoạn 2015 - 2020; Quyết định số 152/QĐ-UBND ngày 20/01/2017 của UBND tỉnh về việc ban hành kế hoạch xây dựng và phát triển thương hiệu các sản phẩm chủ lực của tỉnh năm 2017; Quyết định số 131/QĐ-UBND ngày 19/01/2018 của UBND tỉnh về việc ban hành kế hoạch xây dựng và phát triển thương hiệu các sản phẩm chủ lực của tỉnh năm 2018; Quyết định số 1013/QĐ-UBND ngày 07/5/2018 của UBND tỉnh Sơn La về việc ban hành Đề án quảng bá và phát triển thương hiệu các sản phẩm nông sản của tỉnh giai đoạn 2018 - 2021.
Sau 03 năm triển khai thực hiện xây dựng và phát triển thương hiệu các sản phẩm nông sản chủ lực của tỉnh, kết quả đạt được như sau:
1. Các sản phẩm đã được cấp văn bằng bảo hộ:
Tính đến hết tháng 4 năm 2019, toàn tỉnh đã có 18 sản phẩm mang địa danh của tỉnh được Cục Sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ; 01 sản phẩm được cấp văn bằng bảo hộ tại nước ngoài (Thái Lan ) cụ thể:
- 03 sản phẩm được bảo hộ dưới hình thức chỉ dẫn địa lý: chè Shan tuyết Mộc Châu, quả xoài tròn Yên Châu; cà phê Sơn La
- 11 sản phẩm nông sản được bảo hộ dưới hình thức nhãn hiệu chứng nhận: chè Olong Mộc Châu, Sơn La; rau an toàn Mộc Châu, Sơn La; nhãn Sông Mã, Sơn La; cam Phù Yên, Sơn La; táo Sơn tra Sơn La; Bơ Mộc Châu Sơn La; Na Mai Sơn Sơn La; chè Phổng Lái Thuận Châu Sơn La; nếp Mường Và Sốp Cộp Sơn La; Cá Tầm Sơn La; Cá Sông Đà Sơn La.
- 03 sản phẩm được bảo hộ dưới hình thức nhãn hiệu tập thể: chè Tà Xùa Bắc Yên, Sơn La; Mật ong Sơn La; khoai sọ Thuận Châu, Sơn La.
- 01 sản phẩm đăng ký bảo hộ tại thị trường nước ngoài: Sản phẩm chè Shan tuyết Mộc Châu đã được bảo hộ tại thị trường Thái Lan năm 2017. Đây là sản phẩm nông sản đầu tiên của tỉnh đăng ký bảo hộ thành công tại thị trường nước ngoài.
2. Các sản phẩm đang tiến hành xây dựng nhãn hiệu:
Sở Khoa học và Công nghệ đang tiếp tục xây dựng và phát triển thương hiệu cho 09 sản phẩm: Chuối Yên Châu Sơn La; Chanh leo Sơn La; Mận hậu Sơn La; Rau an toàn Sơn La; Xoài Sơn La; Nhãn Sơn La; Bơ Sơn La, 02 sản phẩm Cá sông Đà Sơn La, cá tầm Sơn La sẽ công bố nhãn hiệu vào đầu năm 2019, gắn với lễ hội của huyện Quỳnh Nhai.
3. Công tác quản lý và phát triển nhãn hiệu:
Việc phát triển và quảng bá nhãn hiệu là yếu tố quan trọng trong phát huy giá trị của thương hiệu, nhằm từng bước ổn định đầu ra cho sản phẩm.
Để duy trì và phát triển nhãn hiệu, Sở Khoa học và Công nghệ, UBND các huyện đã cấp quyền sử dụng nhãn hiệu cho 45 doanh nghiệp, hợp tác xã và 28 hộ gia đình có sản phẩm được đăng ký bảo hộ, sản xuất, kinh doanh trên địa bàn. Về cơ bản, các tổ chức, cá nhân được cấp quyền sử dụng nhãn hiệu đều thực hiện tốt các quy định về sử dụng và quản lý nhãn hiệu, như: hợp tác xã rau an toàn tự nhiên Mộc Châu; các hợp tác xã trồng và kinh doanh nhãn tại huyện Sông Mã; các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh chè Mộc Châu, cà phê Sơn La…
Công tác duy trì, phát triển, quảng bá sản phẩm có thương hiệu đã được các sở, ngành, UBND các huyện, thành phố, một số các tổ chức và cá nhân quan tâm như: Đầu tư cải tạo, nâng cao chất lượng giống; ứng dụng tiến bộ KH&CN trong sản xuất, thu hoạch, bảo quản nhằm nâng cao giá trị sản phẩm, có sức cạnh tranh trên thị trường; hỗ trợ các hợp tác xã, tham gia chuỗi sản xuất và tiêu thụ nông sản an toàn; hỗ trợ ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp; hỗ trợ sơ chế, chế biến sản phẩm; hỗ trợ áp dụng quy trình sản xuất nông nghiệp tốt hoặc các tiêu chuẩn tương đương…
Đẩy mạnh việc thực hiện chương trình hỗ trợ xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch trong và ngoài tỉnh. Các doanh nghiệp, hợp tác xã luôn được tạo điều kiện tham gia nhiều hội nghị xúc tiến đầu tư, hội chợ xúc tiến thương mại, du lịch; các hội chợ triển lãm giới thiệu, quảng bá sản phẩm, chuỗi nông sản an toàn trong và ngoài tỉnh.  
Để phát huy lợi thế và tiềm năng sẵn có trong sản xuất nông nghiệp, một số các doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất sản phẩm đã gắn việc quảng bá sản phẩm với du lịch canh nông, trải nghiệm như: Du lịch đồng chè shan tuyết Mộc Châu gắn với ẩm thực uống chè, hái chè..; du lịch lòng hồ Sông Đà gắn với ẩm thực cá sông Đà, nuôi cá trên lòng hồ sông Đà... xây dựng các khu nghỉ dưỡng, ẩm thực, trải nghiệm hái chè, sản xuất chè olong tại doanh nghiệp Mộc Sương... Tuy nhiên, các mô hình này đều do các tổ chức, cá nhân tự đầu tư, thực hiện chưa bài bản và chuyên nghiệp; tính liên kết giữa các điểm đến với các doanh nghiệp lữ hành còn hạn chế, dẫn tới khả năng thu hút khách du lịch chưa cao, do đó chưa đạt được hiệu quả cao trong phát triển và quảng bá sản phẩm có thương hiệu gắn với du lịch nông nghiệp.
Từ năm 2015 đến nay, công tác xây dựng, phát triển và quảng bá sản phẩm là một trong các yếu tố quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, gia tăng giá trị sản xuất, tăng thu nhập cho người dân, khuyến khích được các tổ chức, cá nhân đầu tư sản xuất kinh doanh chuyên nghiệp, có trọng điểm và ổn định; góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2015 – 2020 trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là tại các vùng sâu vùng xa, dân tộc thiểu số. Để đạt được những kết quả trên, công tác xây dựng, quản lý và phát triển nhãn hiệu của tỉnh đã có những thuận lợi, khó khăn sau:
* Thuận lợi:
- Nhiều chính sách của tỉnh được ban hành hỗ trợ các Hợp tác xã, doanh nghiệp trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm; xây dựng thương hiệu các sản phẩm nông sản.
- Công tác xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm nông sản chủ lực của tỉnh trong những năm qua đã đem lại những hiệu quả không nhỏ trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, dần khẳng định được giá trị trên thị trường và được người tiêu dùng trong và ngoài nước biết đến góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập ổn định đời sống cho người dân đặc biệt là người dân tại các vùng sâu, vùng xa của tỉnh. Điển hình như sản phẩm nhãn Sông Mã, sau khi được cấp nhãn hiệu chứng nhận giá bán ổn định hơn, diện tích trồng được mở rộng, sản phẩm được nhiều người tiêu dùng trong và ngoài nước biết đến; sản lượng và chất lượng cao hơn so với khi chưa xây dựng nhãn hiệu... Đây là cơ hội lớn góp phần thúc đẩy để sản phẩm nhãn của tỉnh đến được với người tiêu dùng trong nước và quốc tế.
- Một số sản phẩm đang hoàn thiện hồ sơ đăng ký bảo hộ cũng đã bước đầu khẳng định được chất lượng và tạo được danh tiếng trên thị trường thông qua các hoạt động triển khai trong các dự án xây dựng và phát triển nhãn hiệu như: sản phẩm mang nhãn hiệu chứng nhận Bơ Mộc Châu, Na Mai Sơn... đã được tiêu thụ tại một số cửa hàng tiện ích và siêu thị tại Hà Nội.
- Các sản phẩm nông sản đã xây dựng thương hiệu về cơ bản chất lượng ổn định, danh tiếng sản phẩm được nhiều người tiêu dùng biết đến. Một số các doanh nghiệp, hợp tác xã đã chủ động trong việc duy trì phát triển và quảng bá thương hiệu sản phẩm thông qua, các hoạt động giới thiệu, bán sản phẩm gắn liền với các tour du lịch sinh thái, du lịch canh nông, trải nghiệm... Việc kết nối với các thị trường tiêu thụ sản phẩm nông sản của tỉnh có chiều hướng phát triển tốt và mở rộng.
- Việc ứng dụng KH&CN vào sản xuất để tạo ra các sản phẩm có năng suất, chất lượng, đáp ứng nhu cầu thị hiếu ngày càng cao của người tiêu dùng đã được người sản xuất quan tâm, chú trọng.
*  Tồn tại, hạn chế, nguyên nhân, giải pháp:
- Tồn tại, hạn chế: Việc xây dựng, duy trì phát triển sản phẩm có thương hiệu còn nhiều hạn chế, khó khăn:
+ Các doanh nghiệp, hợp tác xã đã quan tâm đến xây dựng thương hiệu chưa có đầu tư cho duy trì phát triển và quảng bá thương hiệu. Một số ít các doanh nghiệp, hợp tác xã đã quan tâm đến việc duy trì phát triển và quảng bá thương hiệu sản phẩm nhưng thiếu tính chuyên nghiệp, thiếu tính liên kết trong phát triển và quảng bá thương hiệu, dẫn đến hiệu quả không cao.
+ Sự vào cuộc của các cấp, các ngành trong xây dựng, duy trì phát triển và quảng bá sản phẩm có thương hiệu chưa thường xuyên và chú trọng. Liên kết trong xây dựng thương hiệu với quy hoạch vùng sản xuất các sản phẩm chưa cao.
+ Công tác quảng bá các sản phẩm nông sản đã có thương hiệu của tỉnh trên các phương tiện thông đại chúng còn hạn chế và thiếu thông tin, do đó sản phẩm thiếu sức cạnh tranh trên thị trường.
+ Các kiến thức về duy trì phát triển và quảng bá sản phẩm của các doanh nghiệp, hợp tác xã còn nhiều hạn chế nhất là trong việc xây dựng các công cụ phương tiện quảng bá sản phẩm.
+ Một số hợp tác xã chưa chủ động trong việc phối hợp với các cơ quan liên quan để xây dựng nhãn hiệu cho sản phẩm. Sản phẩm sản xuất ra không tuân thủ theo hợp đồng tiêu thụ đã ký kết mà còn có hiện tượng phá vỡ hợp đồng, bán sản phẩm cho thương lái tiêu thụ làm mất danh tiếng của sản phẩm trên thị trường.
- Nguyên nhân:
+ Nhân lực trong các doanh nghiệp, hợp tác xã được đào tạo chuyên môn về quản trị kinh doanh, tin học, ngoại ngữ còn thiếu chưa đáp ứng được yêu cầu. Các chủ doanh nghiệp, hợp tác xã còn thiếu tầm nhìn về chiến lược kinh doanh lâu dài và bền vững, chiến lược phát triển và quảng bá sản phẩm trên thị trường.
+ Các doanh nghiệp, hợp tác xã chưa thực sự quan tâm nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm thông qua việc duy trì, phát triển và quảng bá sản phẩm như: Thực hiện nghiêm về quy trình sản xuất nông sản sạch, sản xuất an toàn; sử dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm và hệ thống nhận diện sản phẩm đã được bảo hộ; tuyên truyền quảng bá sản phẩm lưu thông trên thị trường.
+ Sự giới hạn về chi phí, tiềm lực tài chính của các đơn vị sản xuất, các hợp tác xã, doanh nghiệp cho công tác xây dựng, quảng bá và phát triển nhãn hiệu.
- Giải pháp:
+ Thực hiện tốt công tác truyền thông thông tin, phát triển nhận thức cho cả xã hội, thị trường tiêu thụ; hiểu được mục đích, ý nghĩa và giá trị thực tế và lâu dài của công tác xây dựng, quản lý và phát triển nhãn hiệu các sản phẩm chủ lực của tỉnh từ đó kích thích tiêu thụ, thúc đẩy sản xuất, tạo điều kiện và động lực cho người sản xuất manh dạn đầu tư, phát triển các sản phẩm lợi thế của mỗi địa phương; các cơ chế chính sách của UBND tỉnh về khuyến khích sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp…
+ Đa dạng phát triển sản phẩm hàng hóa, dịch vụ; từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm, quy chuẩn, đáp ứng tiêu chuẩn ở các thị trường khác nhau. Việc phát triển sản phẩm cần phải đi liền với phát triển các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp (như hộ sản xuất có đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp hoặc hợp tác xã) theo chuỗi giá trị sản phẩm.
+ Xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển hợp lý để tạo ra được vùng hàng hóa gắn “thương hiệu” đáp ứng được nhu cầu của thị trường, hướng tới các thị trường nước ngoài.
+ Đẩy mạnh các hoạt động liên kết sản xuất, phát triển giá trị sản phẩm hàng hóa theo chuỗi, nhằm đảm bảo việc truy xuất nguồn gốc xuất xứ và chất lượng của sản phẩm.
* ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG, QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN NHÃN HIỆU CÁC SẢN PHẨM CHỦ LỰC CỦA TỈNH NĂM 2019 - 2020
1. Bám sát các văn bản chỉ đạo của tỉnh về phê duyệt các sản phẩm chủ lực của tỉnh để tổ chức triển khai xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm nông sản của tỉnh.
2. Xây dựng và triển khai các dự án: “Xây dựng, quản lý và phát triển thương hiệu cho các sản phẩm chủ lực của địa phương” thực hiện năm 2019, năm 2020 với sự phối hợp của các sở, ngành; UBND các huyện, thành phố và các cơ quan, đơn vị có liên quan;
3. Tham mưu, xây dựng định hướng các nhiệm vụ khoa học và công nghệ hàng năm trong lĩnh vực nông nghiệp theo hướng ưu tiên các nhiệm vụ nâng cao năng suất, chất lượng phòng chống sâu bệnh; ứng dụng công nghệ tiên tiến trong thu hoạch bảo quản và chế biến sản phẩm đã xây dựng thành công nhãn hiệu và những sản phẩm có tiềm năng xây dựng nhãn hiệu; trong đó ưu tiên công nghệ bảo quản và chế biến sâu đối với các sản phẩm nông sản.
4. Xây dựng các điều kiện để tiến hành đăng ký bảo hộ tại nước ngoài đối với một số sản phẩm chủ lực của tỉnh như: nhãn, bơ, mận hậu và cà phê; trước mắt tập trung cho công tác bảo hộ các sản phẩm tại thị trường các nước trong khu vực, trong đó chú trọng vào thị trường Trung Quốc.
Nguyễn Thị Kim Xuyến
                                                   Trưởng phòng Quản lý Chuyên ngành
 
 
 
         

                                                                                                  

Về trang trước    Lên đầu trang
 
 
 
Dịch vụ công Lịch công tác Quản lý văn bản điều hành Hòm thư tố cáo tham nhũng Dự án, đầu tư đấu thầu Văn bản chỉ đạo điều hành
Sở khoa học và công nghệ tỉnh Sơn La
  • Xây dựng và quản trị: Trung tâm Thông tin và ứng dụng KHCN
  • Địa chỉ: Số 19 đường Tô Hiệu, Thành phố Sơn La
 

Tổng truy cập : 7.268.498

Giấy phép hoạt động trang thông tin điện tử tổng hợp số: 05/GP-TTĐT